Post Reply 
Bác Sỉ YERSIN và VN
Author Message
nht42 Offline
Member
***

Posts: 249
Joined: Sep 2013
Post: #1
Bác Sỉ YERSIN và VN
Xin cống hiến 1 tài liệu rất hay:



Có thể bạn chưa biết.





BÁC SĨ YERSIN - HIỆU TRƯỞNG ĐẦU TIÊN CỦA ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI





Dịch hạch- một trong những đại dịch khủng khiếp nhất
trong lịch sử loài người- đã giết chết gần 2/3 dân số Châu Âu và 1/3 dân
số Trung Quốc. Và người đã cứu thế giới ra khỏi "cái chết đen" kinh
hoàng đó chính là thầy Hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Y Hà Nội - Bác
sĩ Alexandre Yersin.



Nhận bằng tiến sĩ khi mới 25 tuổi, cùng Roux khám phá ra độc tố bạch hầu
và là 1 trong những người tham gia phát triển huyết thanh ngừa bệnh
dại, Yersin được xem là học trò xuất sắc nhất của Louis Pasteur.

Từ bỏ tương lai đầy hứa hẹn ở viện Pasteur Paris, Yersin chọn con đường
lênh đênh trên biển, luồn lách trong những vùng núi hiểm trở dọc dãy
Trường Sơn, vào ở trong những ngôi làng sắc tộc thiểu số để thỏa mãn
niềm đam mê khám phá cho dù có lúc ông đã suýt mất mạng. Nhưng thật may
là ông đã sống sót và tìm ra cao nguyên Lâm Viên và con đường đi bộ từ
Trung Kì sang Cao Miên.







Năm 1894, khi nạn dịch hạch bùng nổ ở Hồng Kông gây tỉ
lệ tử vong đến đến 95%, chính phủ Nhật bản đã cử đi một đoàn nghiên cứu
do giáo sư Kitasato dẫn đầu với đầy đủ thiết bị hiện đại thì Yersin với
chiếc vali đựng kính hiển vi cũ trong cái lán bằng tre phủ rơm cạnh đó
trong chưa đầy 1 tuần đã tìm ra trực khuẩn dịch hạch và trở thành thầy
thuốc đầu tiên cứu sống một bệnh nhân dịch hạch. Với phát minh vĩ đại
đó, Yersin không nhận một chút vinh quang nào cho mình. Ông từ chối tiếp
các nhà báo, đặt tên trực khuẩn tìm thấy là Pasteurella Pestis để tri
ân người thầy (sau này người ta mới đổi lại là Yersinia Pestis).


Biết được uy tín của Yersin, năm 1902, Toàn quyền Đông
Dương Paul Doumer yêu cầu Yersin ra Hà Nội và thành lập Trường Y – dược
Đông Dương, trực thuộc Đại học Đông Dương. Sau 2 năm xây dựng, năm 1904,
ông từ chức Hiệu trưởng để dành trọn thì giờ nghiên cứu tại Nha Trang.







Nha Trang - nơi mà những người dân ở làng chài nghèo đó
không biết đến huyền thoại sống A.Yersin- người đã đẩy lùi bệnh dịch
hạch- chỉ biết có một vị bác sĩ người Pháp tốt bụng, yêu quý trẻ con và
hay chữa bệnh miễn phí cho người nghèo với cái tên gần gũi-ông Năm.







Ông Năm (bác sĩ Yersin) rất cởi mở, gắn bó với người dân
Nha Trang, rất yêu quý trẻ em. Ông hay cho trẻ em kẹo, tiền lẻ để mua
quà. Thời bấy giờ, ngư dân tránh được tai họa do bão cũng là nhờ bác sĩ
quan sát thiên văn, nghe thời tiết mà báo trước cho họ. Ông Năm thường
khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo.



Ngư dân có thói quen hay uống rượu say, cãi lộn, gây gổ, chửi nhau, thậm
chí ẩu đả. Bác sĩ lặng lẽ lấy máy quay phim, ghi lại những chuyện không
hay ấy. Sau đó, mời dân xóm Cồn đến xem phim, hỏi họ có hay không, đẹp
không? Ai nấy đều xấu hổ. Nhờ đó mà xóm Cồn thời ấy gần như hết nạn say
rượu, đánh chửi nhau.



Ngày ông mất, rất nhiều người dân ở xóm Cồn, ở Nha Trang thương khóc. Họ
để tang và đoàn người tiễn đưa ông dài hơn ba cây số. Có ở đâu như ở
Nha Trang, người dân địa phương thờ cúng ông – một người nước ngoài.







Dù chiếc xe đạp là phương tiện được ông ưa chuộng. ngay
từ năm 1910, ông đã muốn tậu một chiếc phi cơ, nhưng vì Đông Dương không
có sân bay, ông đành bỏ dự định này.

Trong khi viên Công sứ tại Nha Trang chưa có xe nhà thì Yersin đã gởi
mua tại Pháp chiếc Serpollet năm mã lực, chiếc xe Clément và một thuyền
máy.



Nhưng khi cần tiền cho các công trình nghiên cứu hay giúp người nghèo,
ông bán ô-tô và dùng lại xe đạp. Trong các đợt thám hiểm ông dùng ngựa,
voi hay đi bộ chứ không dùng võng hay kiệu như các quan lại Pháp hay
Việt thường dùng khi đi kinh lý.

Năm 1943, vì phổi yếu, ông dùng xích-lô. Nhắc đến Yersin, ai cũng hình
dung một ông cụ già khiêm tốn ăn mặc xuềnh xoàng đi chiếc xe đạp cũ kỹ,
quên rằng Alexandre Yersin đã làm bực mình các quan chức chính quyền
thời bấy giờ với những chiếc ô-tô tối tân.



Tiên phong trong những lãnh vực mới, năm 1932, khi chuyến bay đầu tiên
của hàng không Pháp nối liền Sài Gòn – Paris thì ông dùng máy bay để di
chuyển. Tháng 3 năm 1940, Yerin đã 77 tuổi, lấy máy bay về Pháp để dự
buổi họp hằng năm của viện Pasteur Paris. Một cuộc hành trình rất gay
go. Ngày 30 tháng 5 năm 1940, chuyến máy bay cuối cùng đưa ông về Việt
Nam, trước khi quân đội Đức vào Paris.

Mặc dù vậy, Yersin lại thích sống chung với người dân nghèo chài lưới và
đã bỏ tiền tậu lại cái lô-cốt hai tầng lầu bỏ hoang gần xóm Cồn và cửa
sông Cái làm nhà riêng. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí quyển XI về Khánh
Hoà, đó là một đồn biên phòng rất lâu đời.



Ngư dân xóm Cồn thường gọi tòa nhà này là “Lầu Ông Tư”, nơi bác sĩ A.
Yersin sống và làm việc ngay giữa làng chài bên cửa sông Cái, Nha Trang.
Năm 1977, tòa nhà đã bị đập bỏ để xây dựng nhà nghỉ 378 của Bộ Công an
hiện nay.







Từ năm 1895, Yersin đã tạo lập cho mình chỗ ở tuyệt vời để hằng ngày quan sát và hoà nhập với thiên nhiên.

Ngôi nhà riêng như Lô-cốt mỗi bề khoảng 7m 50. Mỗi tầng có hành lang
rộng bao bọc. Có thể đi dọc hành lang để quan sát. Ông bố trí tầng trệt
là phòng ăn, tầng một là phòng làm việc và tầng hai là phòng ngủ.



Về sau, nóc nhà làm thêm một vòng tròn để dựng kính thiên văn.

Có người cho ông là con người lập dị, một người không chạy theo danh
vọng, quyền lợi cho riêng mình. Một đoạn thư ông viết cho mẹ năm 1890
khi ông hai mươi bảy tuổi: “Mẹ hãy tưởng tượng xem ông Pasteur đã xin
được cho con huân chương của Hàn lâm viện. Các thành viên của Viện Đại
học Pháp rất mong muốn có được tấm huân chương màu tím này, song bản
thân con lại không hề thấy mình xứng đáng được nhận”. Tháng 12 năm 1927,
khi nhận giải thưởng Leconte của viện Hàn lâm Khoa học, ông tuyên bố:
“Giải thưởng nầy là vinh dự cho viện Pasteur và số tiền nhận được sẽ
giúp cho các cuộc thí nghiệm trồng cây quinquina (Canhkina)“. Ông đầu tư
nguồn tiền thưởng hậu hĩnh từ các phát minh vào các công trình đang
thực hiện. Tiền từ Huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh; Giải Audiffret của Hàn
lâm viện Tâm lý và Chính trị có kèm theo 15.000 quan Pháp. Ông dùng số
tiền này tiếp trợ cho nền tài chánh Suối Dầu. Giải thưởng Lassen đem lại
cho ông 8.000 quan Pháp. Ông dùng ngay tiền đó vào việc mở đường mòn
nối liền Suối Dầu – Hòn Bà.

Khi vua Bảo Đại trao tặng Bội tinh Kim Khánh (Long Bội tinh) cho ông, vì
phép lịch sự ông buộc lòng phải cho vua Bảo Đại đeo Kim Khánh vào cổ
mình, nhưng khi vừa bước xuống, ông đã e lệ dùng chiếc mũ ép lên ngực
che hết chiếc huân chương. Năm 1938, trường trung học Đà Lạt muốn có một
bức tượng bán thân của Yersin, ông cương quyết từ chối làm mẫu.



Khi toàn quyền Decoux muốn biết tên những người quyền quí, danh tiếng mà
Yersin đã gặp, ông trả lời: “Ở Đông Dương tôi ít giao thiệp với những
hạng người ấy.”

Thật ra Yersin đã có lần gặp nhiều người danh tiếng. Năm 1896, thống chế
Lyantey (lúc bấy giờ là thiếu tá) đến Nha Trang có ghi vào sổ tay: “Vị
bác sĩ trẻ này tận tụy với vi trùng học, nghiên cứu, chế tạo “vắc-xe”
với một niềm tin tưởng, ý chí đam mê của một nhạc sĩ cao siêu. Những giờ
thăm viện của ông làm phấn khởi tinh thần, mặc dầu viện còn thô sơ.”







Sống tha hương, dù ở Pháp, Việt Nam hay Trung Quốc, hầu
như tuần lễ nào ông cũng viết thư cho mẹ. Tính đến khi mẹ ông mất, năm
1905, ông đã gởi ngót 1.000 bức thư, cho bà biết sức khỏe và công việc
hằng ngày của mình.



Khi mẹ mất rồi, Yersin tiếp tục gởi thư cho người chị ruột, bà Emilie.

Trong thư nhiều khi đầy vẻ hài hước, như khi ông ở Hồng Kông viết cho
mẹ: “Con còn nhiều điều nữa muốn thưa với mẹ, nhưng có hai xác chết đang
chờ con. Họ muốn ra nghĩa địa cho sớm. Tạm biệt mẹ thân yêu. Mẹ rửa tay
sau khi đọc thư này kẻo bị lây dịch hạch, mẹ nhé.”

Yersin khám bệnh miễn phí cho người nghèo. Ông viết cho mẹ, "Mẹ hỏi con
có thích ngành y không. Có và không. Con rất vui được chữa trị cho những
người đến nhờ con khám, nhưng con không muốn biến y học thành một cái
nghề, nghĩa là con sẽ không bao giờ có thể đòi một người bệnh trả tiền
vì đã chữa bệnh cho người đó. Con coi y học là thiên chức, là mục vụ.Đòi
tiền để chữa trị cho bệnh nhân thì chẳng khác nào nói với người đó
rằng: tiền hay mạng sống."

Và ông kể: ""Bệnh nhân An Nam từ khắp nơi đổ về đây, những lúc con không
đi chơi đâu đó. Nói cho đúng, họ lợi dụng hiểu biết khoa học của con,
nhất là những lúc để trả tiền cho con, họ lại thân ái đánh cắp ví của
con. Nhưng biết làm sao bây giờ, trong óc họ, ăn cắp tiền của một người
Pháp là một hành động tốt. Vả lại, người Pháp đến xứ Đông Dương này để
làm gì đây, nếu không phải là ăn cắp của người An Nam?"




Noẽl Bernard viết về A. Yersin có câu: “ít có người không vụ lợi như Yersin. Khiêm tốn, giản dị, lịch sự”.

Ông ăn mặc xoàng xĩnh bộ đồ kaki bạc màu cũ kỹ, áo khoác bốn khuy ba
túi, áo sơ-mi vải trắng hở cổ, quần kaki trên rộng dưới hẹp giặt sạch mà
không bao giờ ủi. Giày vải bố. Trong túi ngực bên trái đựng một cái
đồng hồ trái quít đeo bằng một sợi dây gai đỏ. Phải nói rằng Yersin
không thiếu đồng hồ. Năm 1945, người ta tìm thấy trong tủ sắt của viện
Pasteur Nha Trang rất nhiều đồng hồ trái quít chế tạo tại Thụy Sĩ, phần
lớn bằng vàng, dây đeo cũng bằng vàng, bên trong cái nắp đều có dòng
chữ: Chế tạo riêng cho Bác Sĩ Yersin.



Ngày 22 tháng 11 năm 1920, ông đáp tàu Paul Lecat đi Marseille. Một phục
vụ viên trẻ của tàu không biết ông, cương quyết không cho ông vào phòng
ăn. Nội qui của tàu bắt buộc phải thắt cravate khi bước vào phòng
khách. Yersin trở về cabine. Sau đó, ông quay lại phòng ăn nói với phục
vụ viên: “Chiếc cravate nầy cậu có chấp nhận không ?” Vừa nói ông vừa
chỉ tay xuống chỗ hở ở cổ áo nơi ông vừa đút tấm huân chương “Bắc Đẩu
Bội Tinh” vào.



Năm 1925, một buổi sáng ông đến hãng xe gặp một người khách sang trọng
từ Pháp mới tới. Người nầy thấy ông ăn mặc xoàng xĩnh buột miệng kêu
lên: “Tên bụi đời lang thang này làm gì ở đây ?

Bữa ăn của ông thường đạm bạc. Món ăn ông ưa thích thường ngày chỉ là
món xúp rau cải ăn với bánh mì hoặc biscotte. Trong thời gian chiến
tranh ông phải ăn bánh tráng thay cho bánh mì. Ông thích ăn cá hơn là
thịt. Các loại cá được ông ưa chuộng là cá thu, cá mú.

Món rượu khai vị của ông thường chỉ là thứ nước có bột quinquina do ông
tự chế. Nước uống đôi khi ông dùng nước lá sả mà ông bảo rằng dễ tiêu
hoá. Có lần đi thám hiểm vùng cao nguyên, ông chỉ ăn cơm không trong hai
tháng.







Vì Nha Trang thường có bão táp, Yersin nghiên cứu về khí tượng, thời tiết để giúp ngư dân.

Ông cho làm hai cái bồ to, có đường kính một mét, trên sơn màu đen. Khi
có bão, hai cái bồ được kéo lên hai cây cột bằng phi lao trên núi Sinh
Trung để báo hiệu.

Tháng 11 năm 1939, đoán biết rằng một cơn bão lớn sẽ đổ vào bờ biển Nha
Trang, Yersin vội tập trung tất cả ngư dân xóm Cồn vào trong nhà mình.
Cơn bão biển dữ dội đêm ấy đã cuốn trôi nhiều nhà cửa xóm Cồn, nhưng bà
con vẫn an toàn.



Từ hôm ấy, Yersin được nhiều người dân xóm Cồn tặng cho biệt hiệu “người đã trị cơn sóng thần”.

Viết về Yersin, và viện Pasteur Nha Trang, Henri Jacotot đã có những lời ca ngợi tốt đẹp:

“Trong những thời điểm quan trọng, Yersin luôn luôn sống trong tình
trạng báo động thường trực cả ngày lẫn đêm.” (Yersin et son temps, H.
Jacotot-1937)

Chẳng những lo bảo vệ dân chúng tránh tai nạn bão lụt, Yersin còn luôn
luôn tỏ ra nhân ái đối với người dân ở Nha Trang, nên ông được người
Việt yêu chuộng và kính phục. Ông tự coi mình như một người dân trong
làng, một người có phần may mắn hơn người khác, vì vậy ông thấy có bổn
phận an ủi và giúp đỡ thuốc men.



Một hôm đi xe đạp từ nhà đến sở, ông bị một tài xế bất cẩn đụng ngã.
Không nói một lời nào, ông vội vã dựng xe đạp lên, rồi đi đến viện để
băng bó, không đả động gì đến người tài xế có lỗi.

Lần khác ông gặp người nông phu nằm ngủ trong xe bò dưới gốc cây bàng.
Mặt trời lên cao, bóng mát thay chiều, ông bảo những người phụ tá đẩy xe
bò vào chỗ mát.



Ông rất thương yêu trẻ con xóm Cồn, thường chiếu phim cho chúng xem. Một
hôm, chúng đánh vỡ chậu hoa, ông bảo người giúp việc: “Đừng rầy đánh,
người ta sợ.”




Yersin rất nhẫn nại tử tế với những người cộng sự bản xứ, không bao giờ to tiếng, không bao giờ thị oai.

Người dân Nha Trang gọi ông là Ông Tư (theo cách gọi của người đàng
trong, chỉ ông là con thứ ba). Hay Ông Năm vì theo ngạch nhà binh ông là
Đại tá quân y.

Ông không lấy vợ, sống thanh đạm độc thân.

Yersin đến với người Việt Nam bằng một tấm lòng chân thật. Đó là chìa khoá mở cửa cho ông đi vào tình cảm của người Việt Nam.







Ông ra đi rất thanh thản, ngày 01 tháng 03 năm 1943 vào lúc 01 giờ sáng, vừa đúng tám mươi tuổi.



Một ngày trước khi từ giã cõi đời, ông còn ngồi trên ghế xích-đu dùng ống nhòm đo mực thủy triều.

Mặc dầu có lời căn dặn của ông trong di chúc muốn được an táng đơn giản,
đám tang của ông to lớn chưa từng thấy ở Việt Nam. Ngoài đại diện của
chánh quyền còn vô số người Việt, người Pháp, người Chà, người Hoa,
người Thượng. Dân chúng bày hương án hai bên đường từ Nha Trang lên tận
Suối Dầu nơi ông an giấc ngàn thu. Thể theo chúc thư, đám tang của ông
thật giản dị, không có ai đọc điếu văn.

03-04-2018 08:13 PM
Find all posts by this user Quote this message in a reply
Post Reply 


Forum Jump:


User(s) browsing this thread: 1 Guest(s)